VIỆT NAM THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI NĂM 2022: “PHÁ VỠ NGOẠI LỆ”
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là dòng vốn đặc biệt quan trọng cho tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần bổ sung vốn, công nghệ, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh, năng lực tổ chức và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Năm 2021, mặc dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, FDI vào Việt Nam vẫn đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020. Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang đặt niềm tin lớn vào môi trường đầu tư tại Việt Nam. Vốn đầu tư đăng ký mới và điều chỉnh đều tăng so với năm 2020, đặc biệt vốn điều chỉnh tăng mạnh 40,5%.
Bước sang năm 2022, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam dự kiến sẽ khởi sắc trở lại nhờ các chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn và chính sách mở cửa trở lại nền kinh tế sau hai năm đóng cửa do dịch Covid-19. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/3/2022 đạt 8,91 tỷ USD, giảm 12,1% so với cùng kỳ năm trước.
– Vốn đăng ký mới có 322 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 3,21 tỷ USD, tăng 37,6% về số dự án và giảm 55,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới lớn nhất với số vốn đăng ký là 2,19 tỷ USD, chiếm 68,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 599,9 triệu USD, chiếm 18,7%; các ngành còn lại đạt 422,7 triệu USD, chiếm 13,1%.
Trong số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2022, Đan Mạch là nhà đầu tư lớn nhất với 1,32 tỷ USD, chiếm 41,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp theo là Singapore với 626,6 triệu USD, chiếm 19,5%; Trung Quốc 379,5 triệu USD, chiếm 11,8%; Đài Loan 219,9 triệu USD, chiếm 6,8%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) 191,7 triệu USD, chiếm 6%.
– Vốn đăng ký điều chỉnh của 228 dự án (đã cấp phép từ các năm trước) với số vốn đầu tư tăng thêm là 4,07 tỷ USD, tăng 93,3% so với cùng kỳ năm trước.
Theo ngành, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 5 tỷ USD, chiếm 68,7% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,71 tỷ USD, chiếm 23,5%; các ngành còn lại đạt 569,6 triệu USD, chiếm 7,8%.
– Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 734 lượt với tổng giá trị góp vốn là 1,63 tỷ USD, tăng 102,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 341 lượt góp vốn, mua cổ phần để tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 819,7 triệu USD và 393 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không tăng vốn điều lệ với giá trị là 811,4 triệu USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản đạt 992,9 triệu USD, chiếm 60,9% giá trị góp vốn; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 300,6 triệu USD, chiếm 18,4%; ngành còn lại là 337,7 triệu USD, chiếm 20,7%.
Những con số trên cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đã coi Việt Nam là điểm đến đầu tư an toàn, bày tỏ sự tin tưởng vào môi trường đầu tư kinh doanh và tiếp tục mở rộng đầu tư vào Việt Nam, khi Việt Nam kiểm soát được dịch Covid-19, nền kinh tế đã phục hồi và tăng trưởng trở lại trạng thái bình thường mới.
Ngoài ra, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam trong ba tháng đầu năm nay ước đạt 4,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức cao nhất của quý I trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3,44 tỷ USD, chiếm 77,8% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 379,8 triệu USD, chiếm 8,6%; kinh doanh bất động sản đạt 350,3 triệu USD, chiếm 7,9%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng đầu năm 2018-2022 (tỷ USD)
Mặc dù cơ hội tiếp nhận FDI rất lớn, nhưng cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, nhất là trong bối cảnh nguồn vốn hạn hẹp và tác động nặng nề của đại dịch Covid-19. Cần tranh thủ thu hút nguồn lực bên ngoài để duy trì và phục hồi nền kinh tế. Do đó, cạnh tranh thu hút FDI giữa các nước đang phát triển có sự tương đồng về thị trường, trình độ phát triển, công nghệ và lao động ngày càng gay gắt. Do đó, trong thời gian tới, Việt Nam cần tập trung tìm kiếm các biện pháp có thể phát triển ngành dịch vụ theo chiều sâu; tạo động lực tốt để tăng năng suất của khu vực dịch vụ cũng như khu vực sản xuất kinh doanh và nhiều ngành khác của nền kinh tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thu hút đầu tư như rà soát, bổ sung quỹ đất sạch; rà soát quy hoạch điện; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; bổ sung chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ; xây dựng các quy định, tiêu chuẩn như một bộ lọc mới để lựa chọn các nhà đầu tư FDI có công nghệ tiên tiến, có khả năng chịu được áp lực bên ngoài vì sự phát triển bền vững và an ninh quốc gia.

Bình luận